Báo cáo tổng kết tình hình KTTV năm 2017, hai tháng đầu năm 2018 và nhận định đến hết năm 2018

Thứ hai - 02/04/2018 15:58
1. Tình hình khí tượng thủy văn năm 2017 khu vực tỉnh Bình Định
Tình hình khí tượng
Mùa khô chịu ảnh hưởng chủ yếu của rìa phía nam áp cao lạnh lục địa và đới gió đông bắc hoạt động trung bình đến mạnh, từ giữa tháng 4 chịu ảnh hưởng chủ yếu của rìa phía nam rãnh áp thấp, rìa đông nam áp thấp nóng phía tây và gió mùa tây nam hoạt động. Trên cao là rìa tây nam hoàn lưu áp cao cận nhiệt đới. Tổng lượng mư­a mùa khô năm 2017 phổ biến từ: 505,2 - 869,4mm, riêng An Hòa 1.090mm, nhìn chung cao hơn TBNN cùng kỳ từ 52 - 307mm, riêng Vĩnh Sơn thấp hơn TBNN cùng kỳ 59mm. Số ngày mưa từ 80 - 128 ngày.

Mùa mưa chịu ảnh hưởng chủ yếu của rìa phía nam áp cao lạnh lục địa và đới gió Đông bắc hoạt động, trên cao là rìa tây nam hoàn lưu áp cao cận nhiệt đới, có ngày còn chịu ảnh hưởng của nhiễu động trong đới gió Đông trên cao. Tổng lượng mưa toàn mùa phổ biến từ 1.698 - 2.294mm, cao hơn TBNN cùng kỳ từ 104 - 614mm, đạt từ 105 - 144% tổng lượng mưa TBNN cùng kỳ. Tổng số ngày mưa từ 62 - 93 ngày.
           
Gió tây khô nóng
Nắng nóng đã xuất hiện từ giữa tháng 4 (ngày 9/4 ở phía bắc tỉnh, ngày 20/4 ở phía nam tỉnh) và kết thúc vào giữa tháng 9 (phía bắc ngày 16/9, phía nam ngày 20/9). Tổng số ngày nắng nóng: Quy Nhơn 26 ngày, An Nhơn 49 ngày, Hoài Nhơn 55 ngày.
    
Bão, áp thấp nhiệt đới
Có 16 cơn bão và 05 áp thấp nhiệt đới hoạt động trên Biển Đông:
Mùa khô có 02 ATNĐ và 07 cơn bão, riêng tháng 7 có đến 4 cơn bão. Cơn bão số 2 đổ bộ vào đất liền các tỉnh Thanh Hóa - Hà Tĩnh sáng ngày 17/7; Cơn bão số 4 đổ bộ vào đất liền phía bắc tỉnh Quảng Trị chiều 25/7.

Mùa mưa có 03 ATNĐ và 09 cơn bão. Tháng 9/2017 có 3 cơn bão và 01 ATNĐ, trong đó cơn bão số 10 đổ bộ vào Hà Tĩnh - Quảng Trị ngày 15/9, ATNĐ số 3 đổ bộ vào Quảng Ninh - Hải Phòng ngày 25/9. Tháng 10/2017 có 1 cơn bão và 02 ATNĐ, trong đó ATNĐ số 4 đổ bộ vào đất liền các tỉnh Hà Tĩnh - Quảng Bình ngày 10/10, cơn bão số 11 suy yếu trên vịnh Bắc bộ, ATNĐ số 5 suy yếu thành vùng áp thấp trên vùng biển phía nam Cà Mau sáng sớm ngày 2/11. Tháng 11/2017 có 3 cơn bão, trong đó cơn bão số 12 đổ bộ vào đất liền các tỉnh Phú Yên - Ninh Thuận sáng 4/11, cơn bão số 13 suy yếu trên khu vực phía Tây bắc quần đảo Hoàng Sa sáng 13/11, cơn bão số 14 suy yếu thành ATNĐ và đổ bộ vào các tỉnh Ninh Thuận - Bình Thuận trưa chiều 19/11. Tháng 12/2017 có 2 cơn bão số 15 và 16 và suy yếu trên vùng biển phía Nam.

Không khí lạnh
Mùa khô có khoảng 19 đợt không khí lạnh (kể cả các đợt tăng cường) chủ yếu từ tháng 1 - 4. Hầu hết các đợt không khí lạnh đã gây ra mưa và mưa rào, gió đông bắc trong đất liền cấp 3 - 4, vùng ven biển cấp 5, có lúc giật cấp 6, ngoài khơi cấp 6, cấp 7, giật cấp 8 - 9, biển động đến động mạnh. Từ tháng 5 đến tháng 8 không có không khí lạnh.

Mùa mưa có 14 đợt không khí lạnh. Tháng 9 không có không khí lạnh, tháng 10 có 03 đợt không khí lạnh yếu vào thời kỳ cuối, tháng 11 có 05 đợt không khí lạnh, tháng 12 có 06 đợt không khí lạnh mạnh. 

Hầu hết các đợt không khí lạnh kết hợp với hoàn lưu của bão hoặc nhiễu động trong đới gió Đông trên cao đều gây mưa trên diện rộng, gió đông bắc trong đất liền cấp 3, vùng ven biển có ngày cấp 4 - 5, ngoài khơi cấp 6 - 7, giật cấp 8 - 9, biển động đến động mạnh.

Tình hình mưa
Tổng lượng mưa năm phổ biến từ 2.226,9 - 3.454,5mm, cao hơn TBNN cùng kỳ từ 128 - 1.084mm, đạt 106 - 151% tổng lượng mưa TBNN cùng kỳ. Tổng số ngày mưa từ 102 - 221 ngày. Có 4 đợt mưa lớn gây lũ:

Đợt 1 từ ngày 31/10 - 2/11: chịu ảnh hưởng của rìa nam áp cao lạnh lục địa tăng cường, rìa phía bắc dải tụ nhiệt đới nối với hoàn lưu áp thấp nhiệt đới số 5, kết hợp nhiễu động trong đới gió đông trên cao, nên có mưa vừa, mưa to, có nơi mưa rất to và dông. Lượng  mưa phổ biến từ 48,4 - 194,8mm, riêng Vân Canh 432,0mm.

Đợt 2, từ ngày 3 - 6/11: chịu ảnh hưởng của rìa nam áp cao lạnh lục địa tăng cường mạnh, hoàn lưu bão số 12 kết hợp nhiễu động trong đới gió đông trên cao, nên có mưa vừa, mưa to đến rất to và dông. Lượng mưa phổ biến từ 292,9 - 665,9mm.

Đợt 3, từ ngày 19 - 20/11: chịu ảnh hưởng của rìa nam áp cao lạnh lục địa tăng cường, rìa phía bắc hoàn lưu cơn bão số 14, nên có mưa vừa, mưa to, có nơi mưa rất to và dông. Lượng mưa phổ biến từ 102,8 - 210,4mm.

Đợt 4, từ ngày 2 - 7/12: chịu ảnh hưởng của rìa nam áp cao lạnh lục địa tăng cường mạnh, kết hợp nhiễu động trong đới gió đông trên cao, nên có mưa, mưa rào, riêng từ ngày 2 - 4/12 có mưa to đến rất to và dông. Lượng  mưa phổ biến từ 179,6 - 474,3mm,.

Nhiệt độ
Nhiệt độ trung bình năm từ 26,3 - 27,4 0C, xấp xỉ trên TBNN cùng kỳ; Nhiệt độ cao nhất 38,0 0C xảy ra ngày 3 tháng 6 tại Hoài Nhơn; Nhiệt độ thấp nhất 16,10C xảy ra ngày 7 tháng 2 tại Hoài Nhơn.
 
Các yếu tố khác
Tổng số giờ nắng từ 2.148,2 - 2.376,0 giờ, phía nam tỉnh thấp hơn TBNN cùng kỳ từ 118 - 182 giờ, phía bắc tỉnh cao hơn TBNN 16 giờ.

Tổng lượng bốc hơi từ 879,1 - 1.201,3mm, thấp hơn TBNN cùng kỳ từ 147 - 156mm, riêng Quy Nhơn cao hơn TBNN 55mm.

Độ ẩm trung bình từ 79 - 85%, phía nam xấp xỉ TBNN, phía bắc tỉnh cao hơn TBNN 3%. Độ ẩm thấp nhất 39% xảy ra tại Quy Nhơn ngày 20/6.

Tình hình Thủy văn
Mực nước mùa khô trên các sông trong tỉnh nhìn chung ít biến đổi và có xu thế giảm chậm. Riêng thời kỳ cuối của tháng 1, tháng 4 và tháng 5 có ngày mực nước dao động, thời kỳ giữa tháng 7 sông An Lão tại An Hòa có lũ nhỏ.

Mùa lũ vào tháng 9 và tháng 10 mực nước trên các sông trong tỉnh chủ yếu ít biến đổi đến dao động nhỏ, đan xen có những đợt lũ nhỏ, tháng 11 và tháng 12 đã xuất hiện 4 đợt lũ, đỉnh lũ cao nhất mức báo động II - III và trên báo động III.

Mực nước bình quân năm trên các sông thấp hơn năm ngoái cùng kỳ và TBNN từ 0,08 - 0,35m, riêng sông An Lão tại An Hòa và sông Kôn tại Vĩnh Sơn cao hơn năm ngoái cùng kỳ từ 0,08 - 0,20m,

Mùa khô từ tháng 01 đến tháng 8
Mực nước mùa khô trên các sông trong tỉnh nhìn chung ít biến đổi và có xu thế giảm chậm, riêng thời kỳ cuối của tháng 1, tháng 4 và tháng 5 có ngày mực nước dao động, thời kỳ giữa tháng 7 sông An Lão tại An Hòa có lũ nhỏ. Mực nước bình quân trên sông An Lão trạm An Hòa 19,34m cao hơn năm ngoái cùng kỳ 0,18m và thấp hơn TBNN cùng kỳ 0,08m; sông Kôn tại trạm Vĩnh Sơn 68,88m cao hơn năm ngoái cùng kỳ 0,31m và thấp hơn TBNN cùng kỳ 0,18m, tại Bình Nghi 13,88m cao hơn năm ngoái cùng kỳ 0,13m và thấp hơn TBNN cùng kỳ 0,33m.

Mực nước thấp nhất trên sông An Lão tại trạm An Hòa là 18,98m ngày 08/7(3), xấp xỉ năm ngoái và thấp hơn TBNN cùng kỳ từ 0,15 - 0,20m. Trên sông Kôn tại trạm Bình Nghi là 13,48m ngày 16/4(2), xấp xỉ năm ngoái và thấp hơn TBNN cùng kỳ từ 0,40 - 0,55m.

Mùa lũ từ tháng 9 đến  tháng 12
Mùa lũ vào tháng 9 và tháng 10 mực nước trên các sông trong tỉnh chủ yếu ít biến đổi đến dao động nhỏ, đan xen có những đợt lũ nhỏ, tháng 11 và tháng 12 đã xuất hiện 4 đợt lũ, đỉnh lũ cao nhất mức báo động II - III và trên báo động III. Mực nước bình quân mùa lũ trên các sông nhìn chung thấp hơn năm ngoái cùng kỳ và TBNN phổ biến từ 0,05 - 0,60m. Riêng sông An Lão tại An Hòa xấp xỉ TBNN cùng kỳ; sông Kôn tại Bình Nghi và Thạnh Hòa cao hơn TBNN từ 0,08- 0,11m; sông Hà Thanh tại Diêu trì cao hơn TBNN 0,11m.

Mực nước cao nhất trong mùa lũ:
-Trên sông Lại Giang tại An Hoà đạt 24,42m ngày 05/11, tại Bồng Sơn đạt 8,60m ngày 06/11.
-Trên sông Kôn tại Vĩnh Sơn đạt 74,86m ngày 05/11, tại Bình Nghi đạt 17,89m ngày 06/11, tại Thạnh Hoà đạt 8,77m ngày 04/12.
-Trên sông Hà Thanh tại Vân Canh đạt 44,73m ngày 04/11, tại Diêu Trì đạt 6,31m ngày 04/11.

Tháng 9: mực nước các sông trong tỉnh cả ba thời kỳ ít biến đổi đến dao động nhỏ, riêng sông An Lão tại An Hòa thời kỳ đầu có lũ nhỏ.
Tháng 10: mực nước các sông trong tỉnh thời kỳ đầu ít biến đổi đến dao động nhỏ, thời kỳ giữa và cuối dao động và có lũ nhỏ.
Tháng 11: mực nước các sông trong tỉnh thời kỳ đầu xuất hiện lũ kép, đỉnh lũ cao nhất ở mức trên báo động III, thời kỳ giữa và cuối tiếp tục có lũ ở mức báo động I - II và trên báo động II.
Tháng 12: mực nước các sông trong tỉnh thời kỳ đầu xuất hiện lũ, đỉnh lũ cao nhất các sông phía bắc tỉnh ở mức báo động I - II và trên báo động II, các sông phía nam tỉnh ở mức báo động II - III và trên báo động III, thời kỳ giữa ít biến đổi đến dao động nhỏ, thời kỳ ít cuối có dao động.

Đợt lũ từ 31/10 - 02/11: Do chịu ảnh hưởng của rìa nam áp cao lạnh lục địa tăng cường, rìa phía bắc dải tụ nhiệt đới nối với hoàn lưu áp thấp nhiệt đới số 5, kết hợp nhiễu động trong đới gió đông trên cao, nêncó mưa vừa, mưa to, có nơi mưa rất to và dông. Mực nước sông Kôn - Hà Thanh từ đêm 31/10 đến sáng ngày 01/11 lên nhanh và xuất hiện một đợt lũ, đỉnh lũ cao nhất phổ biến ở mức báo động I - II và trên II, đỉnh lũ cao nhất trên các sông như sau:
- Sông Kôn tại Vĩnh Sơn 70,55m lúc 06giờ 01/11 dưới BĐI 0,45m, tại Bình Nghi 16,08m lúc 13giờ 01/11 dưới BĐII 0,42m, tại Thạnh Hòa 7,10m lúc 18giờ 01/11 trên BĐII 0,10m.
- Sông Hà Thanh: tại Vân Canh 43,05m (lúc 11giờ 01/11) trên BĐI 0,55m, tại Diêu Trì 4,68m (lúc 13 giờ 01/11) trên BĐII 0,18m,

Đợt lũ từ 03 - 06/11: Do chịu ảnh hưởng của rìa nam áp cao lạnh lục địa tăng cường mạnh, hoàn lưu bão số 12 kết hợp nhiễu động trong đới gió đông trên cao, nên khu vực tỉnh Bình Định có mưa vừa, mưa to đến rất to và dông. Trên các sông Bình Định đã xuất hiện một đợt lũ lớn, lũ kép trên báo động III, đỉnh lũ cao nhất trên các sông như sau:
 - Sông An Lão tại An Hòa 24,42m lúc 16giờ 05/11 trên BĐIII 0,42m.
 - Sông Lại Giang tại Bồng Sơn 8,60m lúc 00 giờ 06/11 trên BĐIII 0,60m.
 - Sông Kôn: tại Vĩnh Sơn 74,86m lúc 22giờ 05/11 trên BĐIII 0,86m, tại Bình Nghi 17,89m lúc 07giờ 06/11 trên BĐIII 0,39m, tại Thạnh Hòa 8,49m lúc15giờ 06/11 trên BĐIII 0,49m.
 - Sông Hà Thanh: tại Vân Canh 44,73m lúc 08giờ 04/11 trên BĐII 0,73m, tại Diêu Trì 6,31m lúc 14 giờ 04/11 trên BĐIII 0,81m.

Đợt lũ từ 19- 20/11: Do chịu ảnh hưởng của rìa nam áp cao lạnh lục địa tăng cường, rìa phía bắc hoàn lưu cơn bão số 14, nên khu vực tỉnh Bình Định có mưa vừa, mưa to, có nơi mưa rất to. Trên các sông Bình Định đã xuất hiện một đợt lũ, đỉnh lũ lớn nhất ở mức báo động II - III. đỉnh lũ cao nhất trên các sông như sau:
 - Sông An Lão tại An Hòa 21,78m lúc 20giờ 19/11 dưới BĐI 0,22m.
 - Sông Lại Giang tại Bồng Sơn 4,38m lúc 01 giờ 20/11 dưới BĐI 0,62m.
 - Sông Kôn: tại Vĩnh Sơn 71,11m lúc 19giờ 19/11 trên BĐI 0,11m, tại Bình Nghi 16,22m lúc 17giờ 19/11 dưới BĐII 0,28m, tại Thạnh Hòa 7,19m lúc 07 giờ 20/11 trên BĐII  0,19m.
 - Sông Hà Thanh: tại Vân Canh 44,54m lúc 13giờ 19/11 trên BĐII 0,54m, tại Diêu Trì 5,48m lúc 17 giờ 19/11 dưới BĐIII 0,02m.

Đợt lũ từ 01- 07/12: Do chịu ảnh hưởng của rìa nam áp cao lạnh lục địa tăng cường mạnh, kết hợp nhiễu động trong đới gió đông trên cao, nên khu vực tỉnh Bình Định có mưa, mưa rào, riêng từ ngày 2 - 4/12 có mưa to đến rất to và dông. Mực nước trên các sông trong tỉnh xuất hiện lũ, đỉnh lũ các sông phía bắc tỉnh ở mức báo động I - II và trên báo động II,  các sông phía nam đỉnh lũ ở mức báo động II - III và trên báo động III, đỉnh lũ cao nhất trên các sông như sau:
 - Sông An Lão tại An Hòa 22,57m lúc 06giờ 04/12 trên BĐI 0,57m.
 - Sông Lại Giang tại Bồng Sơn 7,23m lúc 15 giờ 03/12 trên BĐII 0,23m.
 - Sông Kôn: tại Vĩnh Sơn 72,98m lúc 08giờ 04/12 trên BĐII 0,48m, tại Bình Nghi 17,84m lúc 19giờ 03/12 trên BĐIII 0,34m, tại Thạnh Hòa 8,77m lúc 02giờ 04/12 trên BĐIII 0,77m.
 - Sông Hà Thanh: tại Vân Canh 44,56m lúc 01giờ 04/12 trên BĐII 0,56m, tại Diêu Trì 5,90m lúc 04 giờ 04/12 trên BĐIII 0,50m.

2. Tình hình Khí tượng thủy văn tháng 1 - 2 năm 2018
Tháng 1 - 2 năm 2018 chịu ảnh hưởng chủ yếu của rìa phía nam áp cao lạnh lục địa và đới gió đông bắc hoạt động trung bình đến mạnh, trên cao là rìa phía tây nam hoàn lưu áp cao cận nhiệt đới.

Có 01 cơn bão (Bolaven) hoạt động trên Biển Đông (tháng 1) và suy yếu trên vùng biển Phú Yên - Ninh Thuận. Có 10 đợt không khí lạnh, hầu hết gây mưa và mưa rào. Gió đông bắc trong đất liền cấp 2 - 3, vùng ven biển có lúc cấp 4 - 5, giật cấp 6, ngoài khơi cấp 6, cấp 7, giật cấp 8 - 9, biển động đến động mạnh.

 

Tổng lượng mưa tháng 01 phổ biến từ 12,2 - 67,4mm riêng Quy Nhơn 128,7mm, phía bắc tỉnh thấp hơn TBNN cùng kỳ từ 19 - 59mm, phía nam tỉnh cao hơn TBNN cùng kỳ từ 4 - 68mm, số ngày mưa từ 8 - 24 ngày. Tổng lượng mưa tháng 02 phổ biến dưới 10mm riêng An Hòa 22,4mm, nhìn chung thấp hơn TBNN cùng kỳ từ 9 - 25mm, số ngày mưa từ 3 - 9 ngày.

Nhiệt độ tháng 1 trung bình: 22,9 - 23,70C, cao hơn TBNN cùng kỳ từ 0,3 - 0,70C; Nhiệt độ cao nhất: 29,0 - 31,30C, nhiệt độ cao nhất TB: 25,9 - 26,00C; Nhiệt độ thấp nhất: 18,4 - 19,50C, nhiệt độ thấp nhất TB: 21,2 - 22,30C. Nhiệt độ tháng 2 trung bình: 21,8 - 23,20C, thấp hơn TBNN cùng kỳ từ 0,4 - 1,10C; Nhiệt độ cao nhất: 29,2 - 30,00C, nhiệt độ cao nhất TB: 26,1 - 26,40C; Nhiệt độ thấp nhất: 15,3 - 16,90C, nhiệt độ thấp nhất TB: 19,0 - 21,00C.

Mực nước các sông trong tỉnh hai tháng qua nhìn chung ít biến đổi đến dao động nhỏ. Mực nước bình quân tháng qua trên sông An Lão tại An Hoà 19,59m xấp xỉ TBNN cùng kỳ; sông Kôn Vĩnh Sơn 68,59m, tại Bình Nghi 13,70m thấp hơn TBNN cùng kỳ từ 0,55 - 0,65m.

3. Nhận định tình hình khí tượng thủy văn đến hết năm 2018 
Hiện tượng ENSO
Khả năng chuyển dần sang trạng thái trung gian từ các tháng nửa cuối năm 2018. Hiện tại, ENSO tiếp tục được xác định đang ở trạng thái La Nina, chuẩn sai nhiệt độ mặt nước biển khu vực NINO 3,4 thấp hơn so với trung bình nhiều năm, đến thời điểm nửa đầu tháng 3/2018 chuẩn sai nhiệt độ mặt nước biển đang là -0,8oC, tăng so với thời kỳ cuối tháng 02/2018 là 0,3oC. Theo các kết quả dự báo mới nhất về hiện tượng ENSO của các cơ quan dự báo khí hậu trên thế giới cho thấy xu hướng tăng dần của nhiệt độ mặt nước biển khu vực NINO3,4. Theo đó hiện tượng ENSO được dự báo nhiều khả năng sẽ chuyển sang trạng thái trung tính từ các tháng nửa cuối năm 2018 với xác suất trong khoảng từ 55 - 65%.

Bão và áp thấp nhiệt đới
Dự báo số lượng bão và ATNĐ hoạt động trên khu vực Biển Đông và ảnh hưởng trực tiếp đến đất liền nước ta trong năm 2018 có khả năng tương đương so với TBNN. Cụ thể sẽ có khoảng 12 - 13 cơn hoạt động trên Biển Đông và khoảng 5 - 6 cơn ảnh hưởng trực tiếp đến đất liền. Vào thời kỳ đầu mùa, bão và ATNĐ có xu hướng xuất hiện nhiều hơn so với TBNN ở khu vực phía Bắc Biển Đông và xu hướng sẽ dịch dần về phía nam Biển Đông trong những tháng cuối năm 2018. Khả năng bão và ATNĐ ảnh hưởng nhiều hơn tới khu vực Trung Bộ, trong đó khu vực tỉnh Bình Định chịu ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp khoảng 1 - 2 cơn.

Nhiệt độ, nắng nóng
Nhiệt độ trung bình trong các tháng tiếp theo của năm 2018 phổ biến ở mức xấp xỉ TBNN. Nắng nóng diện rộng có xu hướng xuất hiện muộn hơn trung bình và mức độ không gay gắt như trong năm 2017.

Tình hình mưa
Tổng lượng mưa các tháng 4 - 5 và tháng 9 - 10/2018 phổ biến cao hơn TBNN từ 15 - 30%. Các tháng 6 - 8/2018 phổ biến dao động ở mức TBNN, Các tháng 11 - 12/2018 có khả năng thấp hơn TBNN cùng thời kỳ.

Tình hình thủy văn
Mực nước các sông trong tỉnh từ tháng 3 đến tháng 8 nhìn chung ít biến đổi đến dao động nhỏ và có xu thế giảm, riêng thời kỳ từ cuối tháng 5 đến đầu tháng 6 trên các sông khả năng xuất hiện lũ nhỏ (lũ tiểu mãn). Mùa lũ trên các sông trong tỉnh có khả năng xuất hiện sớm, mực nước bình quân mùa lũ ở mức tương đương và cao hơn TBNN. Đỉnh lũ cao nhất trên các sông khả năng xuất hiện khoảng nửa đầu tháng 10 và tháng 11 năm 2018 ở mức BĐII - BĐIII và trên BĐIII. 

Hải văn
Khu vực ven biển tỉnh Bình Định có nguy cơ triều cường cao tập trung vào giữa tháng 11 và 12, đặc biệt khi có khongo khí lạnh lấn sâu xuống phía Nam. Nguy cơ nước dâng do bão và sóng lớn vẫn sẽ tập trung ở ven biển Trung Bộ và Bình Định. Ngoài ra, các đợt không khí lạnh mạnh và kéo dài trong các tháng cuối năm sẽ gây sóng lớn 3 - 4m tại khu vực ven biển tỉnh Bình Định. 
 

Nguồn tin: Đài Khí tượng Thủy văn tỉnh Bình Định:

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Thống kê
  • Đang truy cập21
  • Máy chủ tìm kiếm1
  • Khách viếng thăm20
  • Hôm nay1,205
  • Tháng hiện tại144,040
  • Tổng lượt truy cập13,831,755
global slide list video
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây